SECURITY ANALYSIS BENJAMIN GRAHAM TIẾNG VIỆT PDF

Download sách Nhà Đầu Tư Thông Minh ebook PDF/PRC/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Bạn đang xem: Security analysis benjamin graham tiếng việt pdf

Danh mục : SÁCH CHỨNG KHOÁN


3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

” Về cơ bản đây là một cuốn sách mà có lẽ bất cứ nhà đầu tư nào cũng nên tham khảo qua. Những khái niệm, những bài học được tác giả đúc rút từ rất lâu nhưng vẫn còn rất nhiều giá trị cho tới ngày nay. Chính những bài học này mà ngày nay chúng ta có một nhà đầu tư vĩ đại như Warren Buffet vì vậy nó là bài học đã được xác minh qua thực tiễn. Một điểm trừ nhỏ mà cũng có nhiều độc giả nhắc tới đó là phần biên dịch chưa được tốt nên nhiều khái niệm chưa được thoát ý, hoặc cũng có thể những thuật ngữ này khi dịch ra tiếng Việt sẽ không giữ được ý nghĩa ban đầu của nó. “

” Sách khá hay khi đem đến cho bạn rất nhiều những khái niệm chuyên ngành, giúp bạn có cái nhìn cơ bản về thị trường, ví dụ như khác nhau giữa đầu tư và đầu cơ, hay cung cấp cho bạn những kiến thức cần thiết để bạn có thể lọc ra các thông tin đúng đắn nhất trong một rừng thông tin của thị trường chưng khoán. Do sách đã viết từ lâu, cho nên số liệu đã cũ, nhưng có vẻ như lý thuyết được đúc kết ra không lỗi thời, ít nhất là cho đến bây giờ. Nếu bạn là một đọc giả khó tính, có thể bạn sẽ không thích việc ít nhiều thuật ngữ chuyên ngành dịch chưa ưng ý, mình thì thấy cứ để nguyên văn tiếng Anh sẽ tốt hơn. Bìa sách đẹp, mềm, giấy chất lượng, in đẹp, không lỗi. ”

” Cuốn sách này không thể hiện quan điểm chủ quan về đầu tư mà là những đúc kết khoa học từ lịch sử diễn biến trên thị trường vốn của nước Mỹ. Đọc sách này nhà đầu tư có thể hiểu được cốt lõi của đầu tư và đặc biệt phân biệt được rạch ròi giữa đầu tư giá trị và đầu cơ lướt sóng. Cuốn sách quả thực khó đọc ngay cả đối với bản gốc tiếng anh mặc dù tác giả đã giải thích một cách cặn kẽ nhất. Sở dĩ như vậy vì sách có nhiều thuật ngữ chuyên ngành tài chính. Phần nhiều trong số đó thậm chí không phổ biến ở Việt Nam. Cho dù vậy, tri thức mà tác giả muốn diễn đạt trong cuốn sách này là vô cùng quý giá mà tôi nghĩ là mãi về sau vẫn không thay đổi. ”


Vài trích dẫn sách :

Đàu tư hay đâu cơ: các kết quà mà nhà đầu tư thông minh trông đựi

Chương này phác họa các quan điểm sẽ được nêu trong phần còn lại của cuốn sách. Đặc biệt, chúng tôi muốn ngay từ đầu phát triển khái niệm của mình về cách thức phân bổ danh mục đầu tư thích hợp đối với nhà đầu tư đơn lẻ không chuyên nghiệp.

Đầu tư hay đâu cơ Điêu chúng ta muốn nói lên bằng thuật ngữ “nhà đằu tu” (investor) là gì? Trong suốt cuốn sách, thuật ngữ này sẽ được sử dụng theo nghĩa tương phản với “nhà đầu cơ” (speculator). Ngay từ năm 1934, trong giáo trình Security Analysis (Phân tích chứng khoán)<28> của mình, chúng tôi đã thử tìm cách trình bày một cách chính xác sự khác nhau giữa hai thuật ngữ đó như sau: “Hoạt động đầu tư là hoạt động dựa trên sự phân tích kỹ lưỡng, hứa hẹn sự an toàn của vốn và mang lại một phần lời lãi thỏa đáng. Các hoạt động không đáp ứng được các yêu cầu đó là hoạt động đău cơ.”

Trong khi chúng tôi luôn bám sát định nghĩa này trong suốt 38 năm qua, một điều cũng căn lưu ý là đã có những thay đổi lớn lao xảy ra đối với việc sử dụng thuật ngữ “nhà đầu tu” trong giai đoạn đó. Sau cuộc đại suy thoái thị trường những năm 1929-1932, tất cả các cổ phiếu thường đèu bị coi là có tính đău cơ về bân chẩt. (Một chuyên gia hàng đău đã tuyên bố thẳng thừng rằng chỉ có trái phiếu mới có thể đuợc mua để đầu tư<29>). Do vậy, khi đó chúng tôi đã phải bâo vệ định nghĩa của mình khỏi lời buộc tội là nó nêu ra một phạm vi quá rộng đối với khái niệm đău tư.


Song hiện nay mối quan ngại của chúng tôi lại theo chiều ngược lại. Chúng tôi phải ngán không đề bạn đọc sử dụng một biệt ngữ thông dụng nhằm áp dụng thuật ngữ “nhà đầu tư” đối với bất cứ ai và tất cã mọi người trên thị trường chứng khoán. Trong lằn xuất bản gằn đây nhất, chúng tôi đã trích dẫn dòng tít lớn sau đây của một bài báo trên trang nhất trong tạp chí tài chính hàng đầu của mình vào tháng 6 năm 1962:

CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NHỎ LÀ NHỮNG NGƯỜI BÁN LÚC GIÁ XUỐNG, HỌ BÁN KHỐNG CÁC Lố LẺ Tháng 10 năm 1970, cũng tạp chí này có bài xẫ luận phê phán cái mà tạp chí đó gọi là “các nhà đầu tư liều lĩnh”, những người đã vội vã gia nhập bên mua.

Xem thêm: Mách Bạn Cách Luộc Trứng Vịt Lộn Ngon Nhất, Cách Luộc Trứng Vịt Lộn Ngon Ngọt Không Bị Nứt Vỡ

Các trích dẫn này minh họa khá rõ sự lẫn lộn thống trị nhiều năm trong việc sử dụng các từ đầu tư và đầu cơ. Hãy xem định nghĩa về đầu tư mà chúng tôi đề xuất ở trên và so sánh nó với việc bán một số cổ phiếu bởi một người ít kinh nghiệm trong công chúng, một người thậm chí không sở hữu cái mà anh ta bán ra, và có một niềm tin mang nặng cảm tính là anh ta sẽ có khả năng mua lại các cổ phiếu đó với giá thấp hơn nhiều. (Điều không phải không thích hợp là chỉ ra rằng khi bài báo năm 1962 xuất hiện thì thị trường đã chịu một đợt sụt giảm lớn, và sau đó đã sẵn sàng cho một đợt tăng trở lại còn mạnh hơn. Đó có lẽ là thời gian tồi nhất có thể có để bán khống). Theo một cách hiểu thông thường hơn, cụm từ vừa được sử dụng “nhà đầu tư liều lĩnh” có thể được xem như một sự tương phản buồn cười – đại loại cũng giống như cụm từ “kẻ keo kiệt tiêu tiền như rác” – nếu như việc sử dụng sai ngôn ngữ này không đến nỗi có hại cho lắm.

Tờ báo đã sử dụng từ “nhà đầu tu” trong những trường hợp như vậy bởi vì theo ngôn ngữ dễ dãi của Phố Wall, bất kỳ ai mua hoặc bán chứng khoán đều là nhà đầu tư , bất kể anh ta mua cái gì, nhằm mục đích gì, tại giá nào, mua bằng tiền mặt hay tiền bảo chứng. Hãy so sánh điều này với thái độ của công chúng đối với các cổ phiếu thường năm 1948, khi mà trên 90% những người được hỏi cho thấy họ phản đối việc mua các cổ phiếu thường<30>. Khoảng một nửa số người cho biết lý do là “không an toàn, một sự đánh bạc”, và một nửa thì nêu lý do là “không thạo”<31>. Điều thực sự mỉa mai (tuy không đáng ngạc nhiên) là việc mua tất cả các loại cổ phiếu thường nói chung được coi là mang tính đầu cơ cao hoặc có tính rủi ro cao, khi mà chúng đang được bán trên cơ sở rất hấp dẫn, và nhờ vào việc sắp đạt được sự tăng giá lớn nhất trong lịch sử của chúng; ngược lại, việc chúng đã tăng giá đến mức nguy hiểm không thể chối cãi được, theo đánh giá dựa vào kinh nghiệm cũ, sau đó đã biến các chứng khoán này thành các khoản “đầu tu” và toàn bộ những người mua chứng khoán loại này là “nhà đầu tu”.

Sự phân biệt giữa đầu tư và đầu cơ đối với các chứng khoán luôn là một điều hữu ích và việc sự phân biệt này biến mất là một lý do gây quan ngại. Chúng tôi thường nói rằng Phố Wall với tư cách là một thể chế cằn phải được tư vấn để phục hồi lại sự phân biệt này và nhấn mạnh nó trong tất cả các giao dịch với công chúng. Nếu không, các thị trường chứng khoán một ngày nào đó sẽ bị lên án do đã để xảy ra những tổn thất đâu cơ lớn mà những người chịu mất mát đã không được cảnh báo trước. Điều mỉa mai, một lần nữa, là hầu hết các tình trạng lúng túng về tài chính gằn đây của một số công ty chứng khoán có lẽ là xuất phát từ việc đưa các cổ phiếu thường có tính đầu cơ vào trong quỹ vốn của mình. Chúng tôi tin rằng người đọc cuốn sách này sẽ có được quan niệm tương đối rõ ràng về các rủi ro có tính cố hữu của các cam kết cổ phiếu thường – những rủi ro đó là phần không thể tách rời của các cơ hội về lợi nhuận mà chúng đưa ra, và cả hai cái đó đều cần được xét đến trong những tính toán của nhà đầu tư.